Chiến Tranh Nhật Hàn Quốc Của Đế Quốc Nhật : Korea, Chiến Tranh Nhật Bản

  -  
Thứ sáu, 18 tháng 1 2013 20:27

Cuộc chiến Nhật-Hàn 1592-1598 qua nhị gương mặt Hideyoshi cùng Yi Sun-sin


CUỘC CHIẾN NHẬT-HÀN 1592-1598QUA nhì GƯƠNG MẶT HIDEYOSHI VÀ YI SUN-SIN

GS.TSKH. è Ngọc Thêm

(Trường Đại học Khoa học Xã hội - NVĐại học Quốc gia Tp.HCM)


*

Báo cáo tại Hội thảo Quốc tế kỷ niệm 30 năm thiết lập quan lại hệ ngoại giao Việt phái nam - Nhật bạn dạng tại trường Đại học công nghệ Xã hội và nhân văn - Đại học đất nước Tp. Hồ nước Chí Minh, tháng 12-2003.

Bạn đang xem: Chiến tranh nhật hàn quốc của Đế quốc nhật : korea, chiến tranh nhật bản


1. Korea gần như là quốc gia láng giềng duy nhất của Nhật Bản – nhị nước chỉ cách nhau một eo biển nhỏ mà ở giữa lại có đảo Tsushima nối liền – bởi vậy mà quan hệ lịch sử giữa nhì quốc gia này chứa đầy những sự kiện phức tạp. Một vào những sự kiện phức tạp đó là cuộc chiến tranh của Nhật Bản xâm lược bán đảo Hàn (lúc đó là triều đại Choson – Triều Tiên) nhì lần trong các năm 1592-1598.

Trong vòng một thế kỷ, từ năm 1478 đến 1577, Nhật Bản rơi vào một cuộc nội chiến đẫm máu giữa các thủ lĩnh samurai của các địa phương mà lịch sử Nhật Bản gọi là cuộc Shengoku Zidai (Các tỉnh giao tranh). Người có công chặn đứng được sự sụp đổ của đất nước Nhật Bản bởi cuộc nội chiến trăm năm tạo ra là tướng Nobunaga Oda (1534-1582), một bé người vô cùng điềm tĩnh và khôn ngoan. Sau cái chết của Nobunaga, một vào những tướng lĩnh tài tía nhất của ông là Hideyoshi Toyotomi (âm Hán-Việt là Phong Thần Tú Cát, 1536-1598) đã tiếp tục gửi sự nghiệp thống nhất đất nước đến hoàn tất và đã trở thành người nắm quyền lực cao nhất (được phong nhiếp chính năm 1585 và chức tể tướng năm 1586).

Trong quá trình thực hiện công cuộc thống nhất đất nước Nhật Bản, từ thọ Hideyoshi đã có ý định xâm lược Triều Tiên, và không chỉ dừng lại ở Triều Tiên, ông còn muốn qua con đường Triều Tiên để tấn công xâm lược Trung Hoa. Năm 1586, ông đã nói với giám mục Gasper Coelho rằng ông sẽ đánh Triều Tiên với 2.000 chiến thuyền và muốn nhờ vị giám mục này đặt download giúp ông nhị chiếc tàu chiến tốt của Tây Ban Nha (Sansom 1994: 570).

Cho đến lúc này, đã có tám cánh quân đổ bộ vào Triều Tiên. Chiến thuyền Nhật Bản đậu san sát ngoài hải cảng Busan. Các cánh quân này đã phân chia nhau cai trị khắp đất nước Triều Tiên. Vua Triều Tiên là Sonjo, sau khoản thời gian thất thủ tiếp tại Bình Nhưỡng (Pyong-yang), đã phải chạy lên tận Wiju ở tả ngạn sông Áp-lục (Yalu) và mang đến người thanh lịch triều đình trung hoa cầu viện.

Nhưng trong thời gian đó, một sự kiện quan lại trọng đã xảy ra: Hải quân Nhật Bản đóng tại vùng biển Busan đã liên tiếp bị tấn công, cắt đứt các đường tiếp tế, cùng với sự phát triển của phong trào chiến tranh du kích bên trên đất liền, đã dẫn đến làm cụ đổi hẳn tình thế (Samson 1994: 583, 587).

3. Ai là người đã lãnh đạo những cuộc tấn công vào hải quân Nhật Bản, làm chũm đổi tình thế ấy? Đó chính là đô đốc Yi Sun-sin (이순신 = 李舜臣, Lý Thuấn Thần, 1545-1598), một vị tướng tài giỏi nhất trong lịch sử Korea.

Quy thuyền là một loại tàu chiến có hình dáng theo kiểu con rùa<1>. Theo một số tài liệu lịch sử thì vào thời kỳ đầu của triều đại Choson (Triều Tiên) đã có thuật ngữ Gwiseon (긔선, Quy thuyền), mà lại không có đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn rằng vào thời gian đó loại tàu rùa này đã được thiết kế. Còn Geobukseon (거북선) mới là thuật ngữ dùng để chỉ loại tàu chiến có hình bé rùa với đầu rồng của đô đốc Yi Sun-sin. Loại tàu chiến này có mái vòm úp lên bít kín (giống mu rùa), toàn thân bọc sắt<2> để tránh đạn và thuỷ lôi. Đây là những bé tàu bọc sắt thuộc loại đầu tiên bên trên thế giới. Trên mui tàu (mu rùa) cắm vô số các cọc sắt nhọn làm chông để tiêu diệt những thuỷ quân địch nhảy sang. Bình thường, những lớp chông sắt này được nguỵ trang kín để bịt mắt quân thù. Mặc dù nhiên, lúc quân lính Triều Tiên muốn nhảy sang trọng tàu địch từ mái Quy thuyền của mình thì những lớp chông sắt nhọn này sẽ được tách ra. Trên nóc Quy thuyền có hai cột buồm. Mỗi phía của Quy thuyền đặt mười mái chèo và 6 súng thần công. Để chống lại sự tấn công từ phía trước và phía sau, súng thần công còn được đặt ở trong miệng rồng và ở đuôi rùa nữa, như vậy là súng được đặt chĩa ra tất cả mọi hướng. Xung quanh tàu bố trí rất nhiều chỗ đến các xạ thủ bắn cung. Quy thuyền của Yi Sun-sin dài khoảng 55 cheok (khoảng 17m) với thuỷ thủ đoàn khoảng từ 125 đến 130 người. Bởi lẽ Quy thuyền có khả năng bắn ra hàng loạt đạn súng thần công từ mọi phía về hướng tàu địch, phải trong mọi trận chiến, Quy thuyền luôn là lực lượng xung kích tả xung hữu đột và góp phần quan tiền trọng nhất vào thắng lợi của cuộc chiến.

4. Sau thời điểm đóng dứt các quy thuyền và luyện xong xuôi quân, đô đốc Yi Sun-sin chuyển đoàn chiến thuyền của mình ra khơi. Vào trận trạm chán đầu tiên tại vùng biển Okpo (옥포 = 玉圃, Ngọc Phố) ngày 7-6, ông đã thắng lớn, trong một khoảng thời gian ngắn đã đánh chìm 26 vào số 30 chiến thuyền của hải quân Nhật neo đậu tại đây. Yi Sun-sin được thăng lên chức tứ lệnh thuỷ quân của bố tỉnh phía phái nam (Tam đạo thuỷ quân thống chế sứ).

Sau đó, ông liên tục chiến thắng trong các trận đánh tại Tangp’o (Đường Phố), Tanghangp’o (Đường Hạng Phố), Hansando (한산도, Nhàn sơn đảo) và Busan (Phủ Sơn). Trận thuỷ chiến ngoài khơi đảo Hansan là một trận đánh vang dội, được xem là một trong ba thắng lợi vĩ đại của cuôc chiến tranh chống xâm lược Nhật Bản năm 1592<3>. Trong trận này, một đoàn chiến thuyền lớn của Nhật Bản với vài trăm quân bị đánh tan. Viên chỉ huy đoàn chiến thuyền này là đô đốc hải quân Kurushima, nguyên là một tướng cướp biển, phải cắt cổ tự sát.

Những thắng lợi này của đô đốc Yi Sun-sin đã giúp quân đội Triều Tiên giành lại được toàn quyền kiểm soát bên trên mặt biển, chặn đứng ý đồ của quân Nhật triển khai mũi tiến công lên phía Bắc Triều Tiên bằng đường biển. Đồng thời chiến thắng của Yi Sun-sin còn giúp Triều Tiên bảo vệ được vùng Cholla giàu thóc gạo. Mặt khác, các chiến thắng này đã đặt lực lượng 15 vạn quân Nhật rơi vào tình thế hết sức nguy khốn, mọi đường tiếp tế từ Nhật Bản bị cắt đứt.

Việc các đường tiếp tế trên biển bị cắt đứt khiến mang lại quân Nhật Bản trên đất liền, mặc dù đã rải ra chiếm đóng hầu khắp bán đảo Triều Tiên, đã lâm vào tình thế bị cô lập. Đồng thời quân du kích Triều Tiên nổi lên hoạt động khắp nơi. Cùng với sự can thiệp dù là rất cầm chừng của quân Minh, quân Nhật Bản đã phải mở đường rút lui về phía nam giới và Hideyoshi phải chấp nhận ngừng bắn và yêu quý thuyết với Trung Hoa.

5. Mặc dù nhiên, bởi thái độ kẻ cả nước lớn của nhà Minh và sự kiêu ngạo của Hideyoshi, cuộc mến thuyết đã bị thất bại. Năm 1597, Hideyoshi mở đợt tấn công thứ hai để chiếm lại Triều Tiên. Tuy nhiên lần này thì ở trên bộ, quân Nhật gặp phải sự kháng cự quyết liệt của người Triều Tiên, và đồng thời quân Minh cũng nhanh chóng tham chiến, khiến cho quân Nhật chỉ chiếm được tỉnh Kyongsang (Khánh Thượng đạo).

Trong lúc đó thì bên trên biển hải quân Nhật hoạt động rất mạnh. Sở dĩ như vậy là vì, bởi những thủ đoạn đố kỵ và bè phái trong triều, sau khoản thời gian quân đội Nhật rút đi lần thứ nhất, Yi Sun-sin bị thất sủng, triều đình Triều Tiên (Choson) đã cách chức Tam đạo thuỷ quân thống chế sứ của ông và vậy vào đó một viên tướng bất tài là Won Gun (원군 = 元軍, Nguyên Quân). Đồng thời phía Nhật nhờ rút tởm nghiệm từ cuộc tấn công lần thứ nhất, nên đã củng cố lại lực lượng hải quân, tướng Konishi đã trực tiếp nắm quyền chỉ huy hải quân, nhờ vậy đã đánh cho hạm đội Triều Tiên vì Won Gun lãnh đạo đại bại.

Trước sức mạnh như vũ bão của hải quân Nhật Bản, triều đình Triều Tiên phải vội vàng khôi phục lại chức cũ mang lại Yi Sun-sin. Lúc đó, hạm đội của Yi Sun-sin chỉ còn lại 12 chiến thuyền. Song với sự mưu trí và quả cảm phi thường, Yi Sun-sin đã lại chiến thắng lẫy lừng vào một trận giao tranh với hải quân Nhật vào vùng biển Hoàng Hải gần Mokp’o (Mộc Phố).

Thắng lợi này đã gửi đến một bước ngoặt trong lịch sử cuộc chiến, đẩy hải quân Nhật Bản vào thế bị vây hãm vào một quần thể vực chật hẹp, cũng tức là quân đội Nhật Bản bị vây hãm cả trên biển lẫn bên trên đất liền. Mặc dù vậy, trong tháng 10, quân Nhật dưới sự chỉ huy của tướng Shimasu đã mở được một cuộc tập kích lớn, sử sách ghi rằng trong trận này 38 nghìn quân Triều Tiên và quân Minh đã bị giết, đồn rằng các tướng Nhật đã gửi tai của 38 nghìn người bị giết này về để báo tin thắng trận; và ngày ni du khách đến Kyoto thường tới thăm di tích Mimizuka là khu vực còn được gọi là Mộ chôn tai người.

Tuy có những chiến thắng trên đất liền như vậy, nhưng cuối tháng 10 năm 1598 thì Hideyoshi qua đời. Sau cái chết của Hideyoshi, các tướng lĩnh Nhật Bản tại chiến trường đã mở cuộc hoà đàm với quân Minh và khi quân Minh rút đi thì yêu đương thuyết với quân Triều Tiên, rồi rút toàn bộ quân đội về nước.

Đầu tháng 11, 500 tàu Nhật tập hợp tại eo biển Noryang (Lộ Lương) để chuẩn bị về nước. Đô đốc Yi Sun-sin đã tổ chức truy nã kích quân địch bên trên biển. Bất ngờ ông bị một quả đạn lạc bắn gục. Vào trận này, rộng 200 tàu Nhật bị đánh chìm.

6. Cuộc chiến Nhật-Hàn 1592-1598, thực chất là giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh với china và đã kết thúc thất bại.

Nó đã chứng tỏ tài nghệ đóng tàu và đi biển của người Korea. Theo George Sansom thì “Người Triều Tiên có ưu thế hơn hẳn người Nhật về công nghệ thiết kế và đóng tàu biển. Về nghề đi biển, kể cả việc dùng pháo hạm, người Triều Tiên cũng hơn người Nhật” (1994: 592). Quy thuyền của Yi Sun-sin đã trở thành hình mẫu để sau này người ta cải tiến và chế tạo ra loại Quy thuyền Tongjeyeong (통제영) và Quy thuyền Jeollajwasuyeong (전라좌수영) (Heritage 2003: 274).

Đối với Nhật Bản, cuộc chiến 1592-1598 đã trở thành một bài học đắt giá về chiến tranh trên biển, giới cầm quyền Nhật Bản từ đó về sau đã luôn chú trọng phát triển sức mạnh và kỷ luật của hải quân.

Tuy nhiên, ở trên đây chúng tôi ko có ý định thảo luận về khía cạnh lịch sử cũng như kỹ thuật của vấn đề, mà muốn đi sâu vào khía cạnh văn hoá của nó.

Trong cuộc chiến tranh này, nổi bật lên nhì gương mặt, hai nhà quân sự vĩ đại nhất vào lịch sử của hai dân tộc – đó là Hideyoshi của Nhật Bản và Yi Sun-sin của Triều Tiên.

6.1. Hideyoshi thực ra ko chỉ là nhà quân sự vĩ đại với chiến công lần lượt khuất phục các thủ lĩnh samurai địa phương để hoàn thành việc thống nhất đất nước, ông còn là một nhà chính trị và tổ chức thiên tài lúc thực hiện được những công việc lớn như tổng điều tra ruộng đất năm 1583, tổng điều tra dân số năm 1590. Tuy Hideyoshi cũng có những thói xấu rất đời thường mà chính ông thừa nhận “ba điều là nghiện trà (rượu), thích nuôi chim ưng và mê mệt mê đàn bà” (Sansom 1994: 601), nhưng mà phải công bằng mà thừa nhận rằng bình sinh ông là một bé người có nhiều phẩm chất rất tốt đẹp: vào những năm đầu lập nghiệp, ông không thích chém giết, luôn luôn có ý thức tiết kiệm xương máu binh lính; ông rất khoan thứ với những kẻ thù bại trận; biết sử xự lúc cương cứng lúc nhu, thông minh sắc xảo, nhưng luôn luôn thẳng thắn mà ko xảo trá; rất hiếu thảo với mẹ già...

Tuy nhiên, Hideyoshi đã mất hết sáng suốt khi vào những năm cuối đời, ông đã ăn chơi xa xỉ, xây dựng nhiều lâu đài, dinh thự đồ sộ, độc đoán trong công việc, tàn bạo vào ứng xử. Người đời nguyền rủa việc ông đang trung ương tàn sát cả nhà Hidetsugu là cháu ruột của mình, người mà ông đã nhường mang lại chức nhiếp chính. Ông đã phạm phải không nên lầm nghiêm trọng khi lăng nhục sứ thần nước trung hoa trong lễ phong vương đến ông và càng không nên lầm hơn khi quyết định đánh Triều Tiên lần thứ hai. Ông chết trên giường bệnh ở tuổi 62, khi cuộc tấn công Triều Tiên lần thứ hai mới tiến hành được một năm – một cái chết đầy tiếc nuối và bất an, ích kỷ nữa, lúc chỉ lo rằng những người dưới quyền sẽ phản bội bé mình phải nhiều lần bắt họ thề thốt trung thành; trăng trối lại 11 điều thì tới 9 điều là lo cho con mình rồi.

Xem thêm: Five Reasons Why I Returned My Surface Duo : All The Surface Phone Details

Theo chúng tôi, những thành công và thất bại của Hideyoshi đều có liên quan đến một nét bản sắc của văn hoá Nhật Bản – đó là cái “chất samurai”.

Nhờ những phẩm chất riêng của mình mà một samurai là ông chiến thắng được những samurai khác. Mà lại cũng chính bởi cái đắm đuối chiến thắng này mà một anh hùng vào đối nội là ông trở thành một kẻ kiêu ngạo và tham vọng ngông cuồng vào đối ngoại.

Tất nhiên, việc Hideyoshi chủ trương xâm lược Triều Tiên và trung quốc không chỉ đối chọi giản là biểu hiện của tham vọng chinh phục. Đây còn là một tính toán nhằm cùng lúc bố mục đích: Bằng cuộc chiến này, ông không hầu hết có thể chứng minh mang lại các quốc gia láng giềng và thế giới châu âu thấy sức mạnh quân sự của Nhật Bản, nhiều hơn có thể hướng tính hiếu chiến của các samurai ra ngoài, làm mang lại họ sao lãng việc gây rối vào nước. Ngoại trừ ra, đây còn là một cách hợp lý và hợp pháp để diệt trừ bớt lực lượng samurai thân phương Tây: để mang theo đánh Triều Tiên, Hideyoshi đã huy động chủ yếu quân đội từ miền Tây Nhật Bản, mà chỗ đây lại là vùng chịu ảnh hưởng của Kitô giáo nhiều nhất!

Mặc dù vậy, tham vọng chinh phục và thói kiêu ngạo là nét tính cách không thể phủ nhận ở Hideyoshi. Vào một bức thư viết mang lại vợ năm 1587, Hideyoshi nói với một giọng đầy kiêu ngạo rằng ông sẽ “lệnh mang lại người Triều Tiên phải đến chầu nhà vua (Nhật Bản)”, và tiếp sau đó “sẽ nói chuyện với người Trung Hoa”. Hideyoshi tự tin đến nỗi, trong một bức thư gửi mẹ sau khi cuộc tấn công lần thứ nhất (1952) được phát động, ông khẳng định rằng Seoul nhất định sẽ bị chiếm và đến mùa thu chắc chắn ông sẽ nhận được quà tặng từ kinh đô china (Sansom 1994: 528, 596)<4>.

Thói kiêu ngạo và tham vọng chinh phục trung hoa này ko chỉ có ở riêng Hideyoshi mà có ở cả người tiền nhiệm và chủ soái của ông là Nobunaga Oda (Sansom 1994: 595). Rõ hơn nữa, ở những lãnh tụ Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ nhị sau này thì tham vọng chinh phục không còn chỉ dừng lại ở trung quốc mà họ ôm mộng làm bá chủ toàn bộ thế giới Đông Á và Đông nam giới Á! Tính cách này ở một nước không lớn như Nhật Bản thì đúng là sản phẩm ko thể chối cãi của “chất samurai”.

Theo chúng tôi, cũng chính nhờ cái “chất samurai” này mà vào năm 1863, lúc chạm trán với sức mạnh quân sự phương tây và chiến bại trận, những người samurai miền Tây Nhật Bản mới có đủ bản lĩnh và lòng tự ái để tiến hành ngay lập tức việc hiện đại hoá quân sự, kéo theo là nhu cầu bắt buộc phải hiện đại hóa về khiếp tế, xã hội, tư tưởng, mở đầu mang đến thời kỳ Meiji (Minh Trị) nổi tiếng. Điều này lặp lại hầu như nguyên vẹn vào thời kỳ sau thế chiến thứ hai, tạo nên “sự thần kỳ Nhật Bản” có một ko hai.

6.2. Yi Sun-sin, nhà quân sự xuất chúng nhất của Korea, lại thuộc một môtip văn hoá khác.

Giống như một củ sâm mọc lên trên mặt núi đá, ông lành hiền và nhẫn nại rộng Hideyoshi; ông ko có cái sắc sảo sợi góc của Hideyoshi, và cũng ko có nhiều tham vọng như Hideyoshi.

Bởi vậy mà lúc trượt môn cưỡi ngựa trong kỳ thi tuyển võ quan, ông kiên nhẫn chờ bốn năm tiếp theo thi lại. Rồi lại nhẫn nại trải qua nhiều chức quan liêu nhỏ vào suốt 14 năm mang đến đến lúc được bổ nhiệm làm “Toàn La tả thuỷ sứ”. Hiền lành và nhẫn nại hơn nữa là ngay cả lúc bị thất sủng và triều đình ngược đãi, ông không tự ái, được gọi giao lại chức cũ, ông vui vẻ nhận, chấp thuận chiến đấu trong tình trạng hạm đội của mình đã bị đánh gần tan. Qua đó, ông thể hiện lòng trung thành vô hạn đối với quốc gia.

Yi Sun-sin chết ở tuổi 53, trên chiến trường, rất thanh thản. Điều ông trăng trối lại đến người dưới quyền và các nhỏ là hãy giữ kín tin ông mất, tiếp tục đánh trống, thổi kèn và phất cờ mà tiến lên tiêu diệt quân địch. Câu nói nổi tiếng của ông là: “Người nào liều chết sẽ sống và kẻ nào tìm cách để sống sẽ chết”.

Ông chết sớm, dẫu vậy những kỷ niệm về ông đã sống mãi ở khắp nơi. Để tôn vinh Yi Sun-sin, năm 1643 (45 năm sau khoản thời gian ông qua đời) vua Injo (Nhân Tổ, 1623-1649) đã ban đến ông danh hiệu cao quý “Chungmugong” (충무공 = 忠武功, Trung Vũ Công) để ca ngợi lòng trung thành và tài năng quân sự lỗi lạc của ông.

Tượng Yi Sun-sin và Quy thuyền được dựng ở trung trung khu thủ đô Seoul, giữa Sejong-no và Chong-no. Danh hiệu “Chungmu” (Trung Vũ) được lưu giữ lại vào địa danh Chungmu-ro (충무로) cũng ở trung trung ương thủ đô Seoul. Ở vùng bờ biển phía nam bán đảo có thị trấn Chungmu, cũng là để lưu danh đô đốc Yi Sun-sin. Ở rất nhiều vị trí khác ngoài thủ đô, quần chúng cũng dựng nhiều đền thờ, tượng, bia kỷ niệm Yi Sun-sin.

Ở huyện Asan (Asan-gun, 안산군), cách Seoul 85 km về phía nam, có chùa Hyonchung (Hyonchungsa, 횬충사), là nơi thờ Yi Sun-sin, được xây dựng vào năm 1706 và đã trở thành thánh địa mang lại tất cả những ai ngưỡng mộ ông. Quần thể chùa này như một công viên, tại phía trên có ngôi nhà của Yi Sun-sin, bãi tập bắn cung và một viện bảo tàng với rất nhiều hiện vật, bao gồm cả tế bào hình Quy thuyền. Không xa lắm về phía bắc là ngôi mộ của đô đốc nằm trên một quả núi nhỏ. Ở thành phố Chinhae (친헤), tỉnh Kyongsangnam (Nam Khánh Thượng), người ta cũng tái dựng mô hình Quy thuyền neo trong vịnh biển, và đó là một vào những thắng cảnh du lịch quan liêu trọng.

6.3. Chất “văn hoá núi đá” của Korea và chất “văn hoá samurai” của Nhật Bản khác nhau nhiều, tuy nhiên cũng có chỗ giống nhau. Chỗ giống nhau ấy là cái nghị lực và quyết tâm.

Nghị lực và quyết trung ương của “văn hoá samurai” với lòng yêu thích chiến thắng, trong hoàn cảnh biệt lập tương đối của một đảo quốc, đã giúp người Nhật có thể rứa đổi để tiến lên nhanh chóng.

Nghị lực và quyết trung khu của “văn hoá núi đá”, với tính cần cù và nhẫn nại, cũng đã giúp người Hàn thành công trên con đường hiện đại hóa, mà lại hiển nhiên là chậm hơn nhiều so với Nhật Bản.

Phải chăng chính cái sự giống nhau và khác nhau này chính là nguồn gốc gây nên những quan lại hệ rắc rối, đã tạo đề xuất cái “ẩn ức” “không chịu đại bại kém” của người Hàn trong quan liêu hệ với người Nhật?<5>

Tài liệu tham khảo

1. Hwang Gwi-yeon & Trịnh Cẩm Lan 2002: Tra cứu văn hoá Hàn Quốc. – H.: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Heritage 2003: Korean Cultural Heritage: Seen through Picturers & 6struyenky.vns 2. – Seoul: Sigong Tech Co., Ltd. Và Korea visuals Co., Ltd.

3. Lee Ki-baik 2002: Lịch sử Hàn Quốc tân biên (A new history of Korea). – NXB Tp.HCM.

4. Saccone R. 1998: Koreans to remmember: Fifty famous people who helped shape Korea. – Seoul: Hollym.

5. Samsom G. 1994: Lịch sử Nhật Bản, tập II (1334-1615). – H.: NXB KHXH.

6. Tarnowsky W. 1999: Samurai – hiệp sĩ miền Viễn Đông. – Tp.HCM: NXB Trẻ.

Chú thích:

<1> Hwang Gwi-yeon và Trịnh Cẩm Lan (2002: 340) ko hiểu căn cứ vào đâu mà gọi/dịch là “tàu chim cu”?!

<2> Chú thích vào ngoặc ở bản dịch cuốn sách của Lee Ki-baik “Lịch sử Hàn Quốc tân biên (A new history of Korea)” (NXB Tp.HCM, 2002, Lê anh Minh dịch, Dương Ngọc Dũng hiệu đính) về quy thuyền là sai và thừa: “... Với một cái vỏ bảo vệ (có lẽ là bằng thép) để tránh thương hiệu và thuỷ lôi của địch...” (tr. 300).

<3> nhị trận cơ là trận chiến bảo vệ Haengju (Hạnh Châu) và trận chiến bảo vệ Chinju (Tấn Châu) (Lee Ki-baik 2002: 300-303).

Xem thêm: "Captain America: Civil War" Lọt Top 5 Phim Có Doanh Thu Mở Màn Cao Nhất

<5> Chẳng hạn, vào thể thao, việc đội tuyển bóng đá Hàn Quốc thắng hay lose đội của các nước khác thì chỉ là chuyện vui buồn bình thường, nhưng mà nếu đấu với đội tuyển Nhật Bản thì người Hàn Quốc ai cũng muốn rằng đội mình nhất thiết phải thắng mới được. Trong thời gian xảy ra trận đấu, người Hàn Quốc thường ít ra đi đường mà dán mắt vào màn hình TV, nếu thắng thì mừng vui tột cùng, còn nếu thảm bại thì thấy buồn kinh gớm.